CUộC TRANH ÐẤU CHUNG
QUANH Ý NIỆM DÂN CHỦ
Cố GS Nguyễn Ngọc Huy
Trong diễn tiến dung hòa và chống chọi nhau giữa các luồng tư tưởng chánh yếu, đã có một hiện tượng đáng lưu ý là cuộc tranh đấu nhau chung quanh ý niệm dân chủ. Hiện nay, có nhiều chủ trương cùng tự xưng là dân chủ, nhưng lại chống chọi nhau mãnh liệt. Hai phe đã đương đầu nhau một cách dữ dội từ sau Thế chiến II là Dân chủ tự do và Dân chủ xã hội.
I- SO SÁNH QUAN NIỆM CĂN BẢN CỦA HAI BÊN
A- NHữNG ÐIểM TƯƠNG ÐỒNG
Sở dĩ cả hai phe chống chọi nhau đều tự xưng là Dân chủ được là vì họ đã dựa vào một số quan niệm căn bản như nhau.
1- Theo mọi phe tự xưng là Dân chủ, con người phải được tự do và bình đẳng.
2- Vì mọi người trong cộng đồng đều bình đẳng nhau nên không một cá nhân hay một dòng họ nào có thể làm chủ quốc gia, và quốc gia phải được xem là sở hữu của toàn thể nhân dân.
3- Do chỗ mọi người đều tự do và bình đẳng và quốc gia là sở hữu của toàn thể nhân dân nên người công dân không phải tùng phục một cá nhân nào, chỉ tùng phục luật pháp, và luật pháp này lại không phải là ý muốn một cá nhân hay một tổ chức nào, mà phải do ý muốn của nhân dân mà ra.
4- Luập pháp quan trọng như vậy cho nên cộng đồng phải có một thủ tục làm luật pháp rõ rệt và mọi việc đều phải làm theo như luật pháp ấn định. Theo lề lối thông thường ở các nước gọi là dân chủ, trên hết có đạo luật căn bản là Hiến Pháp được thiết lập đầu tiên theo một thủ tục đặc biệt và có tánh cách trường cửu. Luật pháp thường phải phù hợp với Hiến Pháp. Nhà cầm quyền phải được chọn lựa và bổ nhiệm đúng theo luật pháp và khi được bổ nhiệm rồi thì phải tuân theo luật pháp trong khi hành sự.
5- Hiến pháp và các luật pháp căn bản phải bảo đảm một số quyền lợi đặc biệt của người dân trên căn bản tự do và bình đẳng.
B- NHữNG ÐIểM Dị BIỆT
Tuy nguyên tắc căn bản giống nhau như trên đây đã nói, hai quan niệm Dân chủ tự do và Dân chủ xã hội lại có những điểm rất khác nhau vì một sự chọn lựa về cứu cánh và chủ trương căn bản đã đưa ra những qui tắc áp dụng khác nhau trong đời sống thực tế.
1- Sự khác biệt trong cứu cánh và chủ trương căn bản. Về mặt cứu cánh, quan niệm Dân chủ tự do lấy việc bảo vệ cá nhân, tức là con người với tư cách là con người, làm trọng; trong khi quan niệm Dân chủ xã hội lấy việc bảo vệ tập thể , tức là toàn thể cộng đồng làm trọng.
Tập thể chỉ có một quyền lợi vật chất và tinh thần duy nhứt trong khi các cá nhân trong tập thể có nhiều quyền lợi vật chất và tinh thần khác nhau. Do chỗ khác nhau này mà sự chọn lựa lấy cá nhân hay lấy tập thể làm trọng đã đưa các quan niệm Dân chủ tự do và Dân chủ xã hội đến những chủ trương căn bản khác nhau: một bên theo chủ trương đa phương, một bên theo chủ trương toàn diện.
2- Sự khác biệt trong các qui tắc áp dụng ra thực tế. Trên bình diện thực tế, sự dị biệt trong cứu cánh và chủ trương căn bản đã đưa đến những dị biệt sau đây:
a- Chánh đảng và đối lập. chế độ Dân chủ xã hội theo qui tắc độc đảng và không công nhận đối lập, còn chế độ Dân chủ tự do theo nguyên tắc đa đảng và chấp nhận đối lập.
- Quan niệm Dân chủ xã hội lấy việc bảo vệ quyền lợi tập thể làm cứu cánh. Tập thể vốn chỉ có một quyền lợi vật chất và tinh thần duy nhứt và đảng Cộng sản là đoàn thể được thành lập để phục vụ quyền lợi đó. Bởi vậy, chỉ có đảng Cộng sản mới được quyền cầm quyền điều khiển công việc quốc gia. Trong khuôn khổ của quan niệm Dân chủ xã hội, chống chọi lại đảng Cộng sản là chống chọi lại quyền lợi tập thể, tức là quyền lợi chung của mọi người. Do đó, đối lập bị đồng hóa với phản quốc hại dân và vì lẽ không chánh quyền nào có thể dung nạp những cá nhân và đoàn thể phản quốc hại dân nên chế độ Dân chủ xã hội không chấp nhận đối lập. Trong chế độ Dân chủ xã hội, chỉ có đảng Cộng sản là được hoạt động và cầm quyền. Nếu có lý do nào đó mà người Cộng sản còn phải dung nạp một vài chánh đảng tồn tại thì các chánh đảng này cũng chỉ là các đảng nhỏ không thực lực, không có quyền tự do hoạt động và không được đứng vào thế đối lập mà phải giữ vai tuồng phụ trợ cho đảng Cộng sản. Kết quả của các qui tắc độc đảng là không công nhận đối lập và chánh quyền lúc nào cũng phải do đảng Cộng sản nắm giữ. Sự giành quyền vị hay thay đổi lãnh đạo bị hạn chế trong khuôn khổ của đảng Cộng sản cầm quyền, không có sự tham dự của nhân dân.
- Quan niệm Dân chủ tự do lấy việc bảo vệ quyền lợi cá nhân là cứu cánh mà mỗi cá nhân đều có quyền lợi vật chất và tinh thần riêng rẽ của mình, và các quyền lợi này không thể hợp nhứt làm một được. Bởi vậy, chế độ Dân chủ tự do phải để cho công dân kết hợp nhau trong nhiều chánh đảng, mỗi chánh đảng bênh vực cho quyền lợi vật chất và tinh thần của một số cá nhân. Các chánh đảng đều được tự do hoạt động để bành trướng thế lực và chen vào chánh quyền. Chánh đảng hoặc nhóm chánh đảng nào có chương trình hoạt động phù hợp với quyền lợi của số đông thì được nắm chánh quyền, các chánh đảng khác giữ vai tuồng đối lập, chỉ trích chánh đảng cầm quyền và tìm cách chứng minh rằng sự hoạt động của chánh đảng hay nhóm chánh đảng cầm quyền không có lợi cho quốc gia. Nếu đa số nhân dân cho rằng đối lập chỉ trích sai, họ sẽ tiếp tục ủng hộ phe nắm chq. Trái lại, nếu đa số nhân dân cho rằng đối lập có lý, họ sẽ đưa đối lập lên nắm chánh quyền và phe cầm quyền cũ lại phải rời chánh quyền và làm đối lập. Ðiều này chúng ta thấy ngay tại hầu hết những nước có nền Dân chủ tự do (Canada, Uùc Ðại Lợi, Hoa Kỳ Ẩ.), đã làm điều kiện căn bản vững chắc cho việc phát triển đất nước này giầu mạnh.
Vậy, qui tắc đa đảng và sự chấp nhận đối lập đưa đến việc các chánh đảng khác nhau thay phiên nhau nắm chánh quyền. Việc thay đổi này thực hiện qua những cuộc bầu cử trung thực và có định kỳ.
b- Tập quyền và phân quyền. Chế độ Dân chủ xã hội theo qui tắc tập quyền còn chế độ Dân chủ tự do theo qui tắc phân quyền. Việc tổ chức các cơ cấu chánh quyền trong nước có thể theo nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên, xét về mặt thực tế thì dầu theo hình thức nào, các nước Cộng sản theo chế độ Dân chủ xã hội cũng đều tập trung quyền hành vào tay đảng Cộng sản. Do chỗ đảng Cộng sản nắm quyền quyết định tối hậu về tất cả mọi vấn đề nên dầu cho nước theo Cộng sản có nhiều cơ quan khác nhau, các cơ quan ấy đều phải làm theo chỉ thị của đảng Cộng sản chớ không thể có quyết định khác với ý muốn của đảng Cộng sản được.
Phía các nước theo chế độ Dân chủ tự do thì ít nhứt cũng có sự phân quyền giữa ba cơ quan Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp. Mối liên hệ giữa ba cơ quan đó có thể khác nhau tùy nước, nhưng nói chung lại thì mỗi cơ quan đều có quyền riêng của mình, không cơ quan nào được trọn quyền quyết định và bắt buộc được cơ quan khác phải theo ý mình. Mặt khác, sự hiện diện của nhiều chánh đảng và sự chấp nhận cho đối lập được tự do hoạt động làm cho không chánh đảng nào có thể nắm giữ trọn vẹn hết các cơ quan khác nhau của quốc gia để bắt các cơ quan ấy làm theo ý mình.
c- Phạt lầm và tha lầm. Chế độ Dân chủ xã hội lấy việc bảo vệ quyền lợi tập thể làm cứu cánh nên xem nhẹ quyền lợi của cá nhân. Do đó, khi nhận thấy rằng quyền lợi tập thể bị đe dọa, nhà cầm quyền có thể trừng phạt những cá nhân mà họ cho là có hoạt động bất lợi cho tập thể. Quan niệm về việc có hành động bất lợi cho tập thể thật sự không phải lúc nào cũng rõ ràng minh xác và nhiều khi được gộp chung vào những tội danh mơ hồ như "phản cách mạng", "phản xã hội", "phản động". Mặt khác, việc đặt quyền lợi tập thể lên trên làm cho nhà cầm quyền có thể trừng phạt dầu cho họ không có đủ bằng cớ. Trong một chế độ theo chủ trương như vậy, nhiều người có thể bị trừng phạt oan ức, nhưng với chế độ Dân chủ xã hội, điều này không quan trọng vì cá nhân phải hy sinh cho tập thể.
Chế độ Dân chủ tự do trái lại, lấy việc bảo vệ quyền lợi cá nhân làm cứu cánh nên hệ thống luật pháp nhắm vào việc bảo đảm cho người công dân không bị trừng phạt oan ức. Ðể thực hiện lý tưởng này, chế độ Dân chủ tự do áp dụng một số qui tắc như sau:
- Có luật mới có phạt; người công dân chỉ bị truy tố và trừng phạt khi vi phạm một điều luật đã được ban hành. Một việc làm có thể bị mọi người cho là sai quấy, nhưng nếu không có một điều luật cho đó là việc sai quấy và ấn định sự trừng phạt thì người công dân làm việc đó không thể bị truy tố.
- Muốn truy tố một người, phía chánh quyền phải chứng minh rằng người ấy quả có hành động vi phạm luật pháp. Nếu không có đủ bằng chứng rõ rệt thì phải tha bổng bị cáo. Ðó là qui tắc thà tha lầm một người có tội chớ không thể trừng phạt một người vô tội.
- Ðể chánh quyền không thể vi phạm các qui tắc trên đây, các vị Thẩm phán xử án được độc lập đối với nhà cầm quyền Lập pháp và Hành pháp và không bị bắt buộc phải làm điều gì trái với luật pháp và lương tâm. Chế độ phân quyền và sự hiện diện của đối lập giúp vào việc bảo đảm cho sự độc lập của Thẩm phán nói trên đây.
d- Chấp nhận và không chấp nhận quyền tư hữu trên phương tiện sản xuất.
- Quan niệm Dân chủ xã hội không chấp nhận cho tư nhân có quyền sở hữu trên các phương tiện sản xuất vì cho rằng điều này đưa đến nạn Tư bản bóc lột nhân dân. Do đó, trong chế độ Cộng sản, tất cả các phương tiện sản xuất đều được quốc hữu hóa (quốc doanh) và do chánh quyền điều khiển. Kết quả là tất cả mọi người đều là công nhân của nhà nước; nếu chế độ Cộng sản có chấp nhận cho một số người có của riêng dùng trong sự sản xuất thì nó cũng hạn chế số người này, đồng thời hạn chế quyền của họ. Nói chung thì với chế độ Cộng sản, quan niệm Dân chủ xã hội kiểm soát đời sống người dân một cách chặt chẽ vì có thể trực tiếp ảnh hưởng đến sự làm việc để sanh sống của họ.
- Chế độ dân chủ tự do xem quyền tư hữu là một quyền căn bản của người dân. Do đó, sự hạn chế quyền tư hữu tuy có thể được chấp nhận vì lý do công ích nhưng không thể đi xa quá và đa số người dân được quyền có những của riêng được dùng vào việc sản xuất. Do đó, người dân trong chế độ Dân chủ tự do ít tùy thuộc nhà nước hơn người dân trong chế độ Dân chủ xã hội.





